@ Trần Anh
Lần trước mình đã tóm tắt sử lược về thời Bách niên Thịnh thế của triều đại nhà Lý. Sau đời Lý Thần Tông cũng không có gì đáng kể vì hậu thế suy yếu dần do chuyển đổi ngôi vua liên tục và khởi nghĩa nông dân chống lại sự khổ cực, dẫn đến sự sụp đổ của triều đại lâu nhất Đại Việt. Vì có quá nhiều biến cố và sự xâm lăng từ nhà Tống nên nhà Lý phải dựa vào bộ lạc chài lưới họ Trần để đánh đuổi lại. Nhà Lý kết thúc vào năm 1225 lúc Lý Chiêu Hoàng 7 tuổi nhường ngôi cho Trần Cảnh 8 tuổi. Hôm nay, mình sẽ không tập trung vào sử lược mà giới thiệu vị vua “dân chơi” nhất vào thời Anh Minh Thịnh thế của nhà Trần – Trần Anh Tông.
Lúc thanh niên, bố của Trần Anh Tông là Trần Nhân Tông dặn dò kỹ lưỡng rằng nhà Trần xuất thân từ dân chài lưới, thường xăm hình rồng phượng vào người dọa thủy quái. Nay nhà Trần làm hoàng tộc, nên có tý mực cho oanh liệt tổ tông. Thái tử Trần Thuyên (Anh Tông) dạ dạ, xong lúc vua nhìn đi chỗ khác, chuồn luôn trốn xăm, vì sợ đau và thấy… không đẹp. Thế là thợ xăm đành xăm cho Quốc Chẩn, em họ Anh Tông.
Vua thích vi hành, cứ đêm đến, lại lên kiệu, cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung. Có đêm, ra đến quân phường, bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu vua. Người theo hầu thét lên: “Kiệu vua đấy.” Bọn chúng biết nhà vua, mới tan chạy cả. Một hôm, thượng hoàng thấy đầu vua có vết thương, vặn hỏi, vua cứ thực mà thưa. Thượng hoàng giận dữ hồi lâu.
Sau một thời gian, Trần Anh Tông lại thích nhậu nhẹt chè chén bê tha. Giữa trưa Thái thượng Hoàng về Thăng Long điểm danh, thấy Anh Tông ôm vò thạch sương bồ say quắc cần câu, nổi giận bỏ về Thiên Trường, nói 1 câu: “Ta còn nhiều con trai, việc gì phải đưa nát rượu lên làm vua.” Thế là lòi ra vụ Đoàn Nhữ Hài dâng thư trời mưa cứu bạn, và chính tình huống này phát lộ ra tài năng kiệt xuất của “thư sinh chưa kịp đi thi” họ Đoàn.
Chế Mân (Jaya Simhavarman III) vốn là vị vua anh dũng của Chiêm quốc. Cùng thời với Trần Nhân Tông, chỉ có Chế Mân cũng đánh hạ được quân Nguyên Mông với sự hỗ trợ ngầm của Nhân Tông. Nhân Tông qua Chiêm giao lưu, cao hứng gả Huyền Trân công chúa cho bạn hiền (chắc cũng liên minh lại phòng ngừa đế quốc Nguyên Mông). Anh Tông láu hơn, bảo đổi Châu Ô, Châu Rý (Lý) mới được lấy em gái ruột. Về sau vua Chế Mân mất sớm, Anh Tông hiểu rõ phong tục Chiêm là hỏa thiêu vợ, nên cử nhanh Thiếu bảo Trần Khắc Chung cứu em gái. Sau khi cứu, Khắc Chung và Huyền Trân lang thang đâu đó gần 1 năm mới về bờ, nhưng quan trọng là còn sống. Vì vụ cứu Huyền Trân rất ảnh hưởng đến chính trị, các vua sau của Chiêm Thành cay, lấy cớ đòi lại châu Ô châu Lý (ơ đòi gái xinh về rồi, chia tay đòi quà chứ). Nhưng Anh Tông quyết mất mặt và vất vả để cứu em gái, vì ông rất biết thương yêu, rất con người. Chế Chí (Jaya Simhavarman IV) là con của Chế Mân quyết đòi 2 Châu. Anh Tông dẫn 4 đại cao thủ của mình là Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Đoàn Nhữ Hài, Trần Quốc Chẩn qua thăm cháu họ và bắt luôn Chế Chí về Thăng Long, cho làm Vương ngồi chơi xơi nước, cử Chế Năng (em trai Chế Chí) ngoan hiền làm vua Chiêm.
Ngồi ăn cơm với thái tử Mạnh (sau là Trần Minh Tông), Mạnh ăn rất chỉn chu, kỹ lưỡng. Anh Tông ngứa mắt, mới dặn con: “Phàm là đàn ông, đừng có nhỏ nhẹ duyên dáng thế, phải ăn như rồng cuốn cọp táp, mới làm việc lớn được.”
Trần Anh Tông rất kính trọng đạo Phật, yêu ông già đi tu. Nhưng lại luôn tỉnh táo, soi xét các ông sư. Thiền sư Pháp Loa thiêu xác Thượng hoàng được hơn ba ngàn hạt xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư. Vua có ý ngờ. Các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Hoàng thái tử Mạnh mới 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lị ở trước ngự, đưa ra cho mọi người xem, kiểm lại trong hộp, thì đã mất một số ít hạt. Vua xúc động đến phát khóc, trong lòng mới khỏi nghi ngờ. Pháp Loa là đệ tử của Nhân Tông mà cũng vẫn soi kỹ. Hôm khác, thấy Trạng Nguyên đòi làm đệ của bố Nhân Tông, là Lý Đạo Tái, hắn đòi đi tu lấy Pháp hiệu Huyền Quang. Anh Tông không tin tưởng lắm nên bèn gài Điểm Bích hoa hậu để kiểm tra thiền sư Phật giáo Đại thừa Huyền Quang. Chả biết kết quả thế nào, chỉ biết có 1 bài thơ khá… lãng mạn giữa 2 người, và Huyền Quang trở thành Trúc Lâm Tam tổ.
Vua quậy dùng người rất đa dạng: Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu không cần khoa cử, vẫn được trọng dụng lên những vị trí hàng đầu, và cũng xứng đáng. Sau đó Anh Tông chuẩn hóa lại lễ phục, thi cử, tổ chức Thi Thái học sinh, đặc cách cho Mạc Đĩnh Chi làng Bàng Hà (làng phản bội đầu hàng giặc Nguyên thời chiến tranh) vẫn được thi và được một Lưỡng quốc Trạng nguyên tài năng lỗi lạc! Tháng 3 năm 1304, Anh Tông tổ chức kỳ thi kẻ sĩ trong nước và ban cho Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi chức Thái học sinh hỏa dũng thủ, sung làm nội thư gia. Tương truyền, khi ông ra mắt Nhà Vua, Anh Tông thấy mặt mũi, thân hình ông xấu xí, không muốn cho đỗ Trạng. Mạc Đĩnh Chi liền làm bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc) để nói lên phẩm giá thanh cao của mình, dâng lên Vua. Anh Tông xem bài phú thấy rõ tài hoa, tư cách của ông nên cảm phục và cho đỗ Trạng nguyên. Sau thời gian coi sóc thư khố của Nhà Vua, ông được thăng chức Tả bộc xạ (Thượng thư). Không chỉ Mạc Đĩnh Chi, Thường thắng Tướng quân Phạm Ngũ Lão cũng được trọng dụng thời này, và đánh đâu thắng đó.
Cốt cách của vua thời Anh Minh Thịnh thế rất phong lưu tiêu sái. Sau khi Minh Tông nhận nhường ngôi, sứ Nguyên sang, làm lễ đọc quốc thư xong, hôm sau ban yến. Vua mặc áo tràng vạt bằng là màu vàng, đội mũ có thao, sứ giả khen vua là “thanh thoát như thần tiên.” Đến khi về nước, sứ giả thường nói đến vẻ người thanh tú của vua. Sau này, sứ ta sang Nguyên, có người hỏi rằng:
– “Tôi nghe nói thế tử vẻ người thanh tú nhẹ nhõm như thần tiên có đúng không?”
– Sứ ta trả lời: “Đúng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong thái cả nước”.
Đây là thời trọng dụng các nhân tài ngoài nhà Trần nhất, và đều tuyển được nhân tài. Quân Nguyên gây sự, đánh chiếm vùng biên giới, cướp hũ vàng. Vua cử tướng đánh tung toàn bộ các vùng xung quanh phía Nguyên, tuyên bố: tìm vàng, trả thù. Nhà Nguyên phải viết thư giải hòa. Nhưng khi vua Nguyên gửi thư mời sang, thì vua lại đáp lại là “Tôi con chiều từ bé, ngựa ko biết cưỡi, yếu ớt dặt dẹo, sợ sang quý quốc nằm đó lại khó coi.”
Đó là Anh Tông, vị vua tấu hài nhưng thành công nhất thời bình của nhà Trần, khởi đầu Anh Minh Thịnh thế. Cuộc đời và các sự kiện của Trần Anh Tông cũng nói lên triết lý “ở đời vui đạo” như bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Trần Nhân Tông đã từng viết, “Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu; kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.”
Về tác giả:
Trần Anh là người tôn trọng sự thật và nghệ thuật. Chính vì vậy, tác giả này có sự yêu thích đặc biệt với chính sử và văn hóa, nhất là của Việt Nam. Hiện đang là Nghiên cứu sinh Tài chính ở Mỹ, nhưng Trần Anh thường xuyên có những ghi chép, nhận định cá tính về những góc cạnh của lịch sử, kinh tế, văn hóa. Qua những trang viết, cũng là những trải lòng khiêm tốn của anh, luôn muốn giao lưu, trò truyện với độc giả, để cùng tâm đắc, cùng soi sáng một miền lấp lánh nào đó của tiền nhân.
Discover more from Vietnam Insider
Subscribe to get the latest posts sent to your email.

