Nếu các bạn từng ồ lên ngưỡng mộ trước những bức tranh triệu đô (thực ra là vô giá) của Mai Trung Thứ (1906-1980), Nguyễn Gia Trí (1908-1993), Lê Thị Lựu (1911-1988)… trầm trồ trước những áng văn Tự lực văn đoàn của Thạch Lam (1910-1942), Khái Hưng (1896-1947) … rung động trước thơ của Xuân Diệu (1916-1985), Thế Lữ (1907-1989) … hoặc đắm say trong những ca khúc muôn đời của Văn Cao (1923-1995), Đặng Thế Phong (1918-1942), Phạm Duy (1921-2013)… thì hãy cùng mình tưởng nhớ tới một ông Tây tạo cảm hứng và ươm mầm cho toàn bộ thời kỳ bừng nở của nghệ thuật Việt Nam: thầy Victor Tardieu (1870-1937). Hôm nay, mình sẽ đi sâu vào tiểu sử, vai trò tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD) và tác động của ông với lứa họa sĩ Việt Nam đầu tiên – bàn tay tạo nên thế hệ Vàng.
Victor Tardieu sinh tại Lyon, Pháp. Ông bộc lộ năng khiếu nghệ thuật từ rất sớm, điều đã khiến ông đăng ký vào Trường Mỹ thuật Quốc gia ở Lyon vào năm 1887. Sau 2 năm, ông chuyển đến trường nghệ thuật tư nhân Académie Julian ở Paris, nơi ông theo học dưới sự hướng dẫn của Léon Bonnat (1833-1922) và Albert Maignan (1845-1908). Trình độ học vấn chính quy của ông được bổ sung bằng kinh nghiệm thực tế trong xưởng của họ, nơi ông mài giũa kỹ năng vẽ tranh và nghệ thuật kính màu (stained glass). Từ năm 1896, ông đã trưng bày nhiều tác phẩm tại các triển lãm ở Paris. Trong hai năm 1902 và 1903, ông thực hiện nhiều chuyến du hành nghệ thuật tại các nước châu Âu như Ý, Hà Lan, Anh, nơi ông vẽ những tranh phong cảnh về các bến cảng.
Năm 1902, ông kết hôn với Caroline Luigini (1873-1968), nghệ sĩ chơi đàn hạc và con gái của nhà soạn nhạc Alexandre Luigini (1850-1906). Cặp đôi có một con trai, Jean Tardieu (1903-1995), người sau này trở thành một nhà văn và thơ nổi tiếng. Sự nghiệp ban đầu của Victor Tardieu được đánh dấu bằng những thành tựu như giải thưởng tại Société des Artistes Français, cho phép ông đến London, Liverpool, Genoa, và giúp mở rộng tầm nhìn nghệ thuật. Từ năm 1909 đến năm 1911, ông vẽ trần của Tòa thị chính ở Les Lilas. Năm 1914, ông tình nguyện phục vụ trong Thế chiến 1 và làm nhân viên y tế tại một bệnh viện dã chiến gần Dunkirk, nơi ông tiếp tục vẽ phác thảo. Sau chiến tranh, vào năm 1920, ông vẽ một trần nhà khác ở Tòa thị chính Montrouge, với loạt tranh mô tả “Thời đại của cuộc sống.”
Vào thế kỷ 20, phong trào theo chủ nghĩa hiện đại (modernism) đã lan nhanh từ Trung Quốc sang Nhật Bản. Cuộc đời của Victor Tardieu thay đổi đáng kể khi ông đoạt giải Prix de l’Indochine về hội họa năm 1920, cho phép ông hành trình 1 năm đến Viễn Đông. Ông đã ở tuổi ngũ tuần khi đặt chân đến Việt Nam vào năm 1921 và nhanh chóng trở thành một nhân vật được cộng đồng người Pháp ở Hà Nội yêu mến. Ông ở Đông Dương lâu hơn dự kiến khác quy định 1 năm của giải do được Toàn quyền (Governor-General) Đông Dương Maurice Long (1866-1923) giao nhiệm vụ vẽ “Bà Đầm Xòe” trên tường cho giảng đường lớn tại Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) và Thư viện Quốc gia Việt Nam, một công việc chiếm phần lớn thời gian đầu của ông ở châu Á. Bất chấp sự túi bụi, ông vẫn duy trì sự tò mò về lịch sử, phong tục và truyền thống của Việt Nam. Bản tính cởi mở và tốt bụng đã giúp ông hình thành tình bạn thân thiết với họa sĩ Việt trẻ Nguyễn Văn Thọ (Nam Sơn) (1890-1973), người giúp ông tìm hiểu những phong tục tập quán bản địa, hay đi vẽ phong cảnh để lấy tư liệu cho bức tranh trang trí ở tòa Đại học Đông Dương, dẫn đến tầm nhìn hợp tác cho tương lai của nghệ thuật Việt Nam.

Bức tranh “Bà đầm xòe” khổng lồ Victor Tardieu vẽ trang trí suốt 7 năm (1921–1928) trong giảng đường của Đại học Đông Dương
Tác phẩm của Tardieu được coi là tác phẩm mỹ thuật hiện đại lớn nhất Việt Nam. Trên một diện tích 77m², Tardieu đã minh họa khung cảnh xã hội Hà Nội hồi đầu thế kỷ 20, với sự hiện diện của 200 nhân vật đại diện chung cho xã hội thời bấy giờ, từ chính giới đến thường dân. Trong số đó có mặt cả bốn vị Toàn quyền Đông Dương: Paul Doumer (1857-1932), Jean Baptiste Paul Beau (1857-1926), Albert Sarraut (1872-1962), Maurice Long, một số nhân vật từng lãnh đạo và giảng dạy tại Đại học Đông Dương, và Jean Tardieu đã sống cùng ông ở Hà Nội từ năm 1929 đến 1931.
Về bức tranh, ở trung tâm tác phẩm là một cổng tam quan như cổng làng truyền thống ở thôn quê Việt Nam nằm dưới tán cây cổ thụ. Trán cửa ghi bốn chữ Nho: “Thăng đường nhập thất” nghĩa là “chỉ dạy tới nới tới chốn.” Thăng Đường nghĩa là vị giảng sư lên giảng đường truyền giảng cho đại chúng (Dạy chung). Nhập Thất là người học còn những gút mắc, chỗ chưa thông hoặc muốn học hỏi cao sâu hơn thì Vào thất (chỗ ở riêng của Thầy) tham vấn thỉnh thị cho thấu đáo (Chỉ riêng).

Tranh được trưng bày bên trên bục giảng của giảng đường lớn, tòa nhà chính của Đại học Hà Nội (thời điểm ghi hình khoảng 1929 – 1931).
Trên hai hàng cột chính thì có đôi câu đối:
Nhân tài quốc gia chi nguyên khí | Nhân tài là nguyên khí quốc gia
Đại học giáo hóa chi bản nguyên | Đại học là gốc của giáo hóa
Ẩn hiện mờ ảo giữa cổng tam quan là Allégorie du Progrès – nữ thần tượng trưng cho đà tiến hóa hiện đại, tay cầm sách biểu tượng cho việc dùng trí tuệ để thăng tiến. Trên khoảng không gian rộng trước cổng tam quan, họa sĩ cho phục hoạt một cách sinh động chân dung những con người đương thời gồm nhiều tầng lớp, cả người Pháp lẫn những cư dân bản xứ. Mỗi nhân vật xuất hiện với một gương mặt và cách biểu hiện cảm xúc khác nhau.
Sự hợp tác giữa Tardieu và Nam Sơn không chỉ là sự gặp gỡ giữa tư tưởng lớn mà còn là ước mơ về việc tạo ra một tổ chức nghệ thuật với truyền thống Đông Dương. Tardieu nhanh chóng nhận ra sự cần thiết của một trường học chính quy để nuôi dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ nghệ thuật độc đáo của khu vực. Ông đã viết một báo cáo thuyết phục gửi Toàn quyền Martial Henri Merlin (1860-1935) vào 27 tháng 10 năm 1924, chủ trương thành lập Trường MTĐD tại Hà Nội, nơi ông giữ chức vụ Hiệu trưởng đến năm 1936. Tardieu cho rằng mặc dù thẩm mỹ Trung Quốc về mặt lịch sử đã ảnh hưởng đến nghệ thuật Việt Nam nhưng nó đã phát triển nét đặc trưng riêng qua nhiều thế kỷ. Ông tin rằng một tổ chức dành riêng cho mỹ thuật sẽ giúp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa độc đáo này. Nhờ niềm đam mê của Tardieu và tâm huyết của Nam Sơn, Trường Mỹ thuật Đông Dương đã mở cửa vào 1 tháng 10 năm 1925. Là một phần của hệ thống Đại học Đông Dương, Trường Mỹ thuật không có sự phát triển mạnh mẽ như Trường Y hay Trường Luật, một phần do chính sách bảo hộ của chính phủ không coi trọng việc phát triển văn hóa nghệ thuật. Hơn nữa, ngành này rất kén chọn sinh viên vì đòi hỏi năng khiếu nghệ thuật nên trường tuyển sinh rất ít. Victor Tardieu không ngừng đấu tranh để ngôi trường tồn tại như một địa chỉ uy tín cho các tài năng nghệ thuật Việt Nam. Những tên tuổi được đào tạo từ ngôi trường này cùng với những tác phẩm nổi tiếng của họ đã tạo nên một diện mạo hoàn toàn mới cho hội họa Việt Nam.

Tranh được trưng bày bên trên bục giảng của giảng đường lớn, tòa nhà chính của Đại học Hà Nội (thời điểm ghi hình khoảng 1929 – 1931).
Dựa trên mô hình phương Tây, trường được tổ chức theo chương trình cấp bằng kéo dài 3-5 năm. Chương trình giảng dạy bao gồm các khoa hội họa, điêu khắc và nghệ thuật trang trí. Qua nhiều năm, chương trình giảng dạy được mở rộng để bao gồm kiến trúc (1927), nghệ thuật sơn mài (1928) và khắc kim loại (1932). Năm 1937, Évariste Jonchère (1892-1956) thay thế Tardieu và bổ sung thêm phần Khoa Gốm sứ. Hệ thống này giúp sinh viên làm việc trong studio buổi sáng và tham gia các lớp lý thuyết buổi chiều. Tardieu coi lịch sử nghệ thuật (art history) là một phần bắt buộc của chương trình, với các sinh viên học lịch sử nghệ thuật phương Tây trong năm đầu tiên và lịch sử nghệ thuật Viễn Đông trong hai năm tới. Trường có sự tổng hợp thú vị của thời kỳ nghệ thuật thuộc địa, nơi các nghệ sĩ từ Bắc Kỳ (Tonkin) và Nam Kỳ (Cochin), Trung Quốc, tìm kiếm bản sắc và chủ nghĩa hiện đại. Sự hợp tác đặc biệt giữa giáo viên Pháp và sinh viên Việt đã tạo nên một môi trường độc đáo dẫn đến sự ra đời của nền nghệ thuật dân tộc Việt Nam nhờ thiện chí và sự cống hiến nghề nghiệp của các nhà giáo dục và người học.
Chương trình giảng dạy đồng thời kết hợp liền mạch giữa truyền thống nghệ thuật phương Tây và phương Đông. Được mô phỏng theo Trường Mỹ thuật Quốc gia ở Paris, các khóa học bao gồm vẽ cuộc sống, phối cảnh tuyến tính (linear perspective), vẽ ngoài trời và vẽ tranh sơn dầu, khác biệt so với các phương pháp truyền thống của Việt Nam. Ngoài ra, sinh viên còn được học về các kỹ thuật như vẽ tranh lụa, sơn mài, sơn dầu phương Tây. Trường cũng là một phần trong sáng kiến của thuộc địa Pháp nhằm tạo ra các tổ chức tương tự trên khắp các vùng lãnh thổ. Hơn nữa, trường chào đón sinh viên từ nhiều vùng Đông Dương khác nhau như Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ, Khmer và Lào, mặc dù hầu hết đến từ Hà Nội.
Dưới sự lãnh đạo của Victor Tardieu, Trường MTĐD trở thành trung tâm sáng tạo nghệ thuật và trao đổi văn hóa. Lứa sinh viên đầu tiên được tuyển vào năm 1925, bao gồm 10 sinh viên mỹ thuật và 2 sinh viên kiến trúc, những người sẽ có đóng góp đáng kể trong việc hiện đại hóa nghệ thuật Việt Nam qua sự pha trộn phong cách phương Đông và phương Tây. Chương trình giảng dạy nghiêm ngặt nhấn mạnh ý thức xã hội, vượt ra khỏi quan điểm vị lợi (utilitarianism) của chính quyền thuộc địa và cho phép sinh viên tốt nghiệp đi thực tập ở Pháp và Đông Dương (nhờ việc thành lập Khoa Kiến trúc năm 1926). Các nghệ sĩ và kiến trúc sư Việt tốt nghiệp tại đây đã đặt nền móng cho nghệ thuật và kiến trúc hiện đại của Việt Nam, đóng góp vào các dự án quan trọng của quốc gia và củng cố danh tiếng xuất sắc của trường.
Các giáo viên trường bao gồm họa sĩ Joseph Inguimberty (1896-1971) (dạy từ 1926 đến 1945) và Alix Aymé (1894-1989), vợ của Trung tướng Georges Aymé (1889-1950), người đã làm sống lại truyền thống vẽ tranh trên sơn mài. Nhà điêu khắc Évariste Jonchère đã chỉ đạo trường từ năm 1938 đến năm 1945. Ông đã gây nhiều tranh cãi khi muốn đưa nghề thủ công truyền thống vào chương trình giảng dạy và vì ông không che giấu khuynh hướng chống tinh hoa (anti-elite) của mình bằng cách mở cửa trường cho nhiều đối tượng ứng viên hơn (năm 1925, chính quyền đã nhận được hơn 350 đơn đăng ký cho 10 địa điểm).
Trước Chiến tranh Đông Dương (Indochina War), tác phẩm của sinh viên chủ yếu thấm nhuần chủ nghĩa lãng mạn Pháp (French Romanticism) thế kỷ 19, khơi dậy cảm xúc ở người xem, điều mà thế hệ họa sĩ trẻ đã đạt được bằng cách kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để thể hiện cuộc sống ở Đông Dương dưới sự thống trị của thực dân. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, ngôi trường chuyển đi rồi đóng cửa tạm thời, trở thành nạn nhân của những mưu đồ chính trị. Về sau nó trở thành Trường Mỹ thuật Hà Nội. Nhiều nghệ sĩ, như Trần Văn Cẩn (1910-1994), đã chọn con đường nghệ thuật dấn thân vào chính trị và dùng ngòi bút của mình để tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc. Kết quả là, các tác phẩm của sinh viên dần rời xa ảnh hưởng Lãng mạn châu Âu và hướng tới nghệ thuật xã hội hiện thực hơn.
Thế hệ nghệ sĩ và kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên được đào tạo dưới sự hướng dẫn của Victor Tardieu đã có những đóng góp đáng kể cho văn hóa và xã hội Việt Nam. Những nghệ sĩ này gồm Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân (1906-1954) và Trần Văn Cẩn, những cá nhân đã trở thành những người tiên phong việc pha trộn các họa tiết truyền thống Việt Nam với kỹ thuật nghệ thuật hiện đại. Tác phẩm của họ phản ánh sự kết hợp độc đáo giữa ảnh hưởng phương Đông và phương Tây, tạo nên một phong cách nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Việt Nam và tiếp tục ảnh hưởng đến các nghệ sĩ đương đại. Các sinh viên nổi bật bao gồm Lê Phổ (1907-2001), Vũ Cao Đàm (1908-2000), Tô Ngọc Vân và Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), những người đầu tiên triển lãm tranh lụa ở Paris năm 1931. Nguyễn Gia Trí nổi tiếng với tranh sơn mài, trong khi họa sĩ Công giáo La Mã Lê Văn Đệ (1906-1966), Nguyễn Tường Lân (1906-1946) và Lê Thị Lựu, người di cư đến Paris, cũng có những đóng góp đáng chú ý. Các nghệ sĩ khác như Nguyễn Sáng (1923-1988), Nguyễn Khang (1912-1989), Huỳnh Văn Gấm (1922-1987), Phan Kế An (1923-2018), Dương Bích Liên (1924-1988) và Tạ Tỵ (1922-2004) đã làm phong phú thêm tấm thảm rực rỡ của nghệ thuật hiện đại Việt Nam, tạo nên một di sản tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ mới.
Năm 1931, trường MTĐD đã gây tiếng vang lớn tại 1 Đấu xảo ở Paris. Nhiều tác phẩm của sinh viên trường MTĐD lần đầu tiên được giới thiệu tại triển lãm với một số lượng lớn tranh sơn mài, tác phẩm trang trí sơn mài đến những tác phẩm về lụa. Rất nhiều nhà phê bình Pháp thời điểm đó đánh giá sự kiện này gần như là một định vị mới của nền nghệ thuật ở Đông Dương. Một số tác phẩm nổi bật có thể kể đến trong Gian sơn mài là 3 tấm chính do Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Thang Trần Phềnh (1895-1972) sáng tác và thực hiện, cũng như các tấm sơn mài và trang trí nội thất cửa ra vào của Đỗ Đức Thuận (1898-1970). Nguyễn Phan Chánh, giảng viên thỉnh giảng của trường có 6 bức tranh lụa: Người rửa bát, Bữa cơm, Người hát rong, Cô thợ khâu, Gánh hàng cơm, và Người bán ốc, được giới phê bình đánh giá rất đẹp.
Tại trường MTĐD, Victor Tardieu đã không áp đặt cho học trò của mình một trường phái nào mà chỉ truyền cho họ lòng say mê và những kỹ thuật hội họa cơ bản, đặc biệt là sử dụng sơn dầu. Bên cạnh những ví dụ mẫu mực của các họa sĩ nổi tiếng phương Tây, Victor Tardieu lại nhấn mạnh nhiều hơn tới chính truyền thống nghệ thuật của Việt Nam như là điểm khởi đầu cho sự phát triển phù hợp với xu hướng thế giới. Ngay tại Triển lãm nghệ thuật quốc tế ở Paris năm 1931, những sinh viên này đã tạo được ấn tượng mạnh với khán giả và giành liền 3 giải thưởng lớn.
Trang trí gian trưng bày của trường Mỹ thuật Đông Dương tại Đấu xảo năm đó có bức phù điêu lớn được thực hiện hoàn toàn tại Hà Nội bao gồm 4 tấm: “Sĩ phu, quan lại” của Vũ Cao Đàm; “Phố xá, buôn bán” của Lê Tiến Phúc; “Nông nghiệp” và “Ngư nghiệp” của Georges Khánh (1906-?). 4 bức phù điêu này đã gây ấn tượng với giới mỹ thuật và quan chức Pháp. Họ thấy được kết quả của sinh viên trường MTĐD hầu hết mới chỉ mở khóa đầu đã có trình độ chuyên môn cao và hứa hẹn nhiều thành tựu trong tương lai.
Đặc biệt ảnh hưởng của trường MTĐD với tư tưởng, triết lý sáng tạo mang tính khai phóng của Victor Tardieu còn được cụ thể hóa trong đời sống bằng các phong trào xã hội thiết thực. Tiêu biểu phải kể đến, hội Ánh sáng bắt đầu từ năm 1936, có sự tham gia của các họa sĩ, kiến trúc sư của trường MTĐD, khởi xướng và đứng đầu là Tự Lực văn đoàn của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1906-1963). Phong trào này đã thổi một luồng gió mới vào đời sống của xứ Đông Dương thời bấy giờ. Họ mượn việc bài trừ kiểu sống ở nhà tranh vách đất, nhà ổ chuột, nhà mất vệ sinh để xây dựng những kiến trúc mới. Thông qua đó đưa nếp sống mới, tư tưởng hiện đại vào cuộc sống của người dân.
Mặt khác, nhờ xây dựng được một chương trình giáo dịch nghệ thuật tiến bộ, trường MTĐD đã tạo dựng những lớp người tinh hoa mới có nhiều đóng góp và ảnh hưởng trong sự phát triển của đất nước trong gần 1 thế kỷ qua. Trong 21 năm tồn tại từ 1924 đến 1945, trường MTĐD đã đào tạo được khoảng 150 họa sĩ chính khóa, khoảng 50 kiến trúc sư, hàng trăm học viên dự bị, bàng thính, hàng trăm học viên các lớp nghệ nhân thủ công mỹ nghệ.
Các cựu sinh viên lỗi lạc (chính khóa, dự bị, bàng thính) như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tường Tam, Vũ Cao Đàm, Georges Khánh, Lê Văn Đệ, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Cát Tường (1912-1946), Trịnh Hữu Ngọc (1912-1997), Nguyễn Cao Luyện (1907–1987), Hoàng Như Tiếp (1910-1982), Hùynh Tấn Phát (1913-1989), Nguyễn Đỗ Cung (1912-1977), Bùi Xuân Phái (1920-1988), Văn Cao, Thế Lữ, Phạm Duy … đại diện cho những thế hệ tinh hoa mới của Việt Nam trong thế kỷ 20. Họ có nhiều ảnh hưởng ở lĩnh vực hội họa, đồ họa, điêu khắc, kiến trúc, thiết kế, âm nhạc, văn chương, kịch nghệ, điện ảnh…
Sự cống hiến của Tardieu trong việc thúc đẩy sự trân trọng sâu sắc đối với di sản Việt Nam trong các sinh viên của ông đã tạo ra một thế hệ nghệ sĩ tự hào về cội nguồn văn hóa của mình và chia sẻ chúng với thế giới, khơi dậy một thời kỳ phục hưng văn hóa ở Việt Nam. Việc thành lập Trường MTĐD đã định vị Việt Nam là một trung tâm nghệ thuật xuất sắc ở châu Á, thu hút sinh viên và giảng viên tài năng, đồng thời làm phong phú nền nghệ thuật Việt Nam qua trao đổi văn hóa sôi động. Cam kết của trường đối với sự sáng tạo, niềm tự hào về văn hóa và sự xuất sắc về kỹ thuật để lại dấu ấn không thể phai mờ trong văn hóa Việt Nam và củng cố vị trí của Tardieu như một biểu tượng văn hóa có ảnh hưởng cộng hưởng với các nghệ sĩ và nhà giáo dục ở Việt Nam.
Thầy Tardieu mở ra một thời kỳ bùng nổ của cái đẹp thuần Việt hướng ra biển lớn, lại làm mình liên tưởng tới chủ đề của bài sắp tới, về thời đỉnh cao nghệ thuật Lê Trung Hưng. Nhưng một người phương Tây như thầy đem lại cái vô song trong cảm hứng: Lê Trung Hưng để lại cho chúng ta hàng ngàn kiến trúc và pho tượng kinh điển, tươi sáng lại chèo, hát văn, tranh Đông Hồ … thì MTĐD, Tự lực văn đoàn, Tiền chiến … gửi gắm lại những tác giả cụ thể, quan điểm rực cháy, nét Việt vươn tầm và cái Tôi nồng nàn của từng con người. Thời huy hoàng này giờ chỉ còn lung linh trong hoài niệm, trong thưởng thức, trong những lần đấu giá… Chúng mình cần những bậc thầy như vậy, và cần thắp lại những tinh thần như vậy, cho một Việt Nam tươi đẹp.
Discover more from Vietnam Insider
Subscribe to get the latest posts sent to your email.

